Giáo Hội Công Giáo và Nhân Quyền
03
th. 3
Nhân định
đó của Walter Kasper, nay là Hồng Y chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Võ
Hiệp Nhất Kitô Hữu cho thấy ngày nay nhân quyền được xem là chuẩn mực
hướng dẫn nếp sống cá nhân và các cộng đồng trong đại gia đình nhân
loại. Trong mọi ngành sinh hoạt từ văn hóa, chính trị, tôn giáo, báo chí
truyền thông kể cả thể thao, kinh tế, cuộc sống gia đình v.v… nhân
quyền được nêu lên như một mục tiêu sinh hoạt, một giá trị tối thượng để
đánh giá tốt xấu, để tuyên dương hay trừng phạt, ngay cả bằng biện pháp
chiến tranh.
Nhưng đằng sau lớp áo Nhân quyền nặng tính ‘truyền thông đại chúng’ đó,
biết bao người đã là nạn nhân của bạo lực chà đạp nhân quyền sau hơn nửa
thế kỷ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền được Liên Hiệp Quốc công bố;
một vài sự kiện nổi bật như – các vụ tàn sát ở Cambốt vào cuối thập
niên 70, – hàng triệu triệu ngưởi bị thảm sát, lưu lạc tại Rwanda trong
thập niên vừa qua, – đàn áp tôn giáo, văn hóa, chính trị… tồn tục tại
nhiều nước trên thế giới, ngay cả sau thời điểm Bức Tường Bá-Linh sụp
đổ, – nạn nghèo đói, kém phát triển, chênh lệc cuộc sống không những
giữa các quốc gia mà ngay trong mỗi cộng đồng dân chúng của mỗi quốc
gia. Nhân quyền vẫn không được lắng nghe và áp dụng, mà đáng lo ngại
hơn nữa là nội dung của nhân quyền chưa kịp đem ra áp dụng thì sự kiện
nhân danh Nhân quyền để chà đạp nhân quyền lại phổ biến: nhiều người mẹ
nhân danh quyền của mình để chà đạp quyền sống của con trong bụng mình,
nhân danh quyền tự do truyền thông một cách khách quan bất chấp danh dự
cá nhân kẻ khác và lợi ích chung v.v…
Trong một mức độ nào đó, mối liên lạc văn hóa giữa nền văn minh Tây
Phương tân tiến và các tôn giáo, đặc biệt là giáo hội công giáo, trong
lối cảm nhận về nhân quyền có vẻ như không còn khắng khít như thời kỳ
tiếp liền theo Công Đồng Vaticanô II; đây đó dư luận lên án thái độ đạo
đức của giáo quyền Roma là thủ cựu, như ngầm hiểu là chống lại nhân
quyền (đặc biệt là các vấn đề liên quan đến tính dục, gia đình); hơn thế
nữa nhiều quốc gia tuy có số lượng người công giáo chiếm đa số tuyệt
đối đã ban hành nhiều đạo luật (phá thai, hôn nhân đồng tính, can thiệp
giúp bệnh nhân tự tử…) đi ngược lại với giáo huấn đạo đức mà giáo hội
công giáo chủ trương; kết quả là phía bên nầy bên kia, đạo và đời đều có
những nhóm ngầm cho rằng nhà cầm quyền hoặc giáo hội công giáo là tác
nhân vi phạm Nhân quyền.
Như thế đằng sau chữ nhân quyền tưởng chừng như ai cũng am tường đầy đủ
nội dung, thật sự còn có nhiều nội dung văn hóa căn cơ hơn, có nhiều
điểm tương đồng nhưng cũng không thiếu những nét dị biệt. Một phần chính
các mối căng thẳng đôi bên không phải phát xuất từ việc thiếu thiện chí
thực thi nhân quyền, nhưng phát xuất từ phương cách định giá nhân
phẩm và các chiều kích trọn vẹn của nhân tính.
1/ Mạc khải Kitô giáo và quan điểm của văn hóa tân kỳ về Nhân quyền
Tác giả Walter Kasper trong tài liệu Nền tảng thần học của nhân quyền đã
nhận định về việc xây dựng nền tảng cho Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền một cách tương đối bi quan như thế nầy: “Nhưng vấn đề đặt ra là
xem cái gì tạo nên sự vững bền cho nền tảng chung đó. Người ta kể rằng
một thành viên của một trong ủy ban soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền
tại Liên Hiệp quốc có lần như từng phát biểu rằng: ‘Chúng ta đồng ý về
các quyền ấy, với điều kiện là đừng ai hỏi tại sao!’. Sự hững hờ về việc
đặt nền tảng của Nhân quyền khai lộ cho thấy nhược điểm nào đó của
những lối biện minh cho sự chính đáng của các quyền ấy[2]…”
Nói cách khác, nền tảng xây dựng nội dung ý nghĩa nhân quyền trong Bản
Tuyên Ngôn nầy như dựa trên một cảm nhận chung chung của con người thời
đại, cảnh giác những vi phạm đến cá nhân mà lương tri không cho phép
(con người nhìn nhận có tiếng nói tự nhiên nơi tâm hồn mọi người:“không được phép làm điều nầy hay điều kia…”).
Người ta đã dừng lại đoạn đường ấy có lẽ vì muốn có sự đồng thuận tối
thiểu về một số biện pháp cấp bách tiếp sau những tang thương kinh hoàng
của đệ nhị thế chiến, hoặc để giảm bớt những chống đối của các quốc gia
không thuộc vào truyền thống văn hóa mà GS Joseph Joblin, S.J. gọi là truyền thống văn hóa Địa Trung Hải[3].
Và cũng trong bối cảnh của thời sự có tính cách ứng dụng thực tiễn và
thúc đẩy bởi tình thế cấp bách mà các tôn giáo, đặc biệt là giáo quyền
công giáo, đã công khai nhìn nhận giá trị tích cực của Bản Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, mặc dầu có những ngại ngùng của
nhiều tín đồ trong giáo hội nầy[4].
Người ta ngại ngùng vì không những quá khứ có những tranh chấp có tính
cách xã hội chính trị giữa đạo đời, mà ngay ở mức độ nền tảng xây dựng
quan điểm về nhân tính và phẩm giá con người, đôi đường có những cách
biệt sâu xa.
Mặc khải tích cực Kitô giáo khai mở cho thấy con người được định nghĩa,
được đánh giá từ Thiên Chúa: là hình ảnh Thiên Chúa, là con Thiên Chúa,
là bạn hữu của Con Một Thiên Chúa, là chi thể mà Con Thiên Chúa là đầu,
là giá trị tột bậc đến nỗi Thiên Chúa đã hy sinh Con Một mình để cứu
chuộc, đã được Thiên Chúa yêu thương đến độ hứa ban vinh dự mãi mãi sẽ ở
cạnh Ngài… Nhân tính và phẩm giá đó đã chứng thực trong lịch sử và hoàn
thành nơi Đức Kitô: Đức Kitô yêu Thiên Chúa trọn đầy nơi con người và
yêu con người trọn trọn đầy trong Thiên Chúa. Nhân tính và nhân phẩm đó
làm cho trí khôn tự nhiên của con người hụt chân. Không một sự vật nào,
một ý niệm nào từ sức con người nghĩ ra được tính “linh ư vạn vật kỳ
diệu” đó. Hai chiều kích tương quan chân thật với Thiên Chúa và tương
quan huynh đệ nhân loại không thể tách rời nhau bất cứ vì một lý do gì
hay một giây phút nào. Toàn bộ Kinh Thánh bất cứ trang nào, dòng nào
cũng qui chiếu vào Đức Kitô, Đấng hoàn thành hai chiều kích ấy.
Người Kitô hữu ngày nay khi đọc lại Phúc Âm rồi đọc toàn Bản Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền, hoặc đối chiếu với châm ngôn Tự do – Bình đẳng –
Huynh đệ của Cách Mạng 1789 hẳn sẽ ngạc nhiên vì không thấy có những nội
dung nào giữa đôi bên quá mâu thuẫn, tại sao lại có xung khắc lên án
nhau, hoặc phải ngại ngùng dè dặt. Kỳ thực đằng sau những dòng chữ nầy
có những nội dung hướng dẫn khác biệt đưa đến những lối hiểu, những
phương cách giải thích và áp dụng khác nhau; chưa kể đến những tranh
chấp quyền lực chính trị xã hội tạo ra những tiền kiến và nghi ngại đến
độ lên án và khai trừ nhau.
Thành ngữ nhân quyền với âm hưởng tân thời xuất hiện (lần đầu được tìm thấy trong các tài liệu là vào năm 1537)[5]
rất muộn trong bối cảnh văn hóa Thời Phục Hưng Âu Châu. Walter Kasper
cho rằng sự xuất hiện nội dung mới về nhân quyền là hiện tượng khủng
hoảng[6];
khủng hoảng toàn bộ cơ cấu xã hội sau trật tự Thời Trung Cổ Âu Châu sụp
đổ. Trước đó Kitô giáo quán xuyến quyền đời, quyền đạo như một bà mẹ
nuôi con dại. Tương quan con người với Thiên Chúa và tương quan huynh đệ
nhân loại được hiểu là đạo và đời quyện lẫn vào nhau, nếu không nói là
quyền bính tôn giáo được đồng hóa với tầng lớp giáo sĩ luôn được ưu
tiên vật chất lẫn tinh thần. Tuy không hoàn hảo, nhưng cơ cấu và trật tự
xã hội thời Trung Cổ ốn định trong khung cảnh lịch sử Âu Châu thời ấy.
Qua đến thời Phục Hưng, tất cả dường như bể bung chờ đợi một cuộc lột
xác: của cải vật chất nay thay chủ, giai cấp giáo sĩ và quí phái, điền
chủ nhường địa vị ưu thắng cho giới thương gia và kinh doanh; kiến thức
văn hóa không còn giới hạn trong các tu viện, nhưng phổ biến rộng rãi
trong quần chúng nhờ phương tiện đi lại và máy in. Các nhà trí thức
hướng về việc nghiên cứu văn hóa cổ Hy lạp và khám phá lại kiến thức
nhân bản thời các nhà “khôn ngoan”(người ta còn dịch là ngụy biện =
sophistes) để tin vào khả năng lý trí tự nhiên nơi mỗi cá nhân và làm
quen với một lối điều hành nếp sống cộng đồng trong tinh thần dân chủ
của Nhã Điển. Nói tóm, xã hội thời Phục Hưng chuẩn bị đẩy lui các chuẩn
mực và quyền hành ở bên ngoài để chỉ còn nhìn thấy uy thế tối thượng của
lý trí cá nhân như một chuẩn mực duy nhất. Về mặt văn hóa, nếu Thiên
Chúa còn được nhắc đến thì hoặc được đồng hóa với lý trí phổ quát mà con
người xác quyết là ở trong quyền lực sử dụng của mình rồi, hoặc chỉ là
một ý tưởng điều hành mà lý trí nêu lên như một giả thiết để xây dựng
hệ thống kiến thức của mình mà thôi. Với nền hữu thể học truyền thống Hy
lạp định nghĩa toàn hảo, linh thiêng là một cái gì độc lập, tự đủ cho
mình, và với khám phá lý trí quyền năng vô tận mà mỗi người sẵn có
trong mình, từ nay những ý niệm tự do, tự chủ trong bối cảnh văn hóa nầy
(thường được gọi là thời tân kỳ) trở thành những giá trị tối thượng,
chuẩn mực cho đạo đức và phẩm giá con người.
Trong bối cảnh lịch sử xã hội Âu Châu thời bấy giờ, độc lập tự chủ trước
mắt là giải thoát khỏi các cơ cấu ràng buộc bên ngoài tức là tổ chức
Kitô giáo và các luật lệ tôn giáo liên hệ. Vì trước đó giáo hội đã tự
đồng hóa là hàng giáo phẩm, giáo sĩ, và đồng thời xem mình là hiện thân
của Thiên Chúa nơi trần thế, nên nay việc loại bỏ ảnh hưởng của giáo hội
cũng được cả đôi bên, đạo cũng như đời, xem là loại bỏ yếu tố thần
thánh, thiêng liêng nơi sinh hoạt con người và xã hội, là tách rời và
sau đó là quên hẳn chiều kích tương quan giữa con người và xã hội với
Thiên Chúa. Cuộc tranh chấp căng thẳng từ văn hóa đến quyền uy xã hội
nầy trở thành nghiêm trọng dần và nổ bung qua cuộc cách mạng Pháp năm
1789 và với ảnh hưởng phổ biến của trào lưu Triết học Ánh sáng. Nội dung
nhân quyền trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của văn hóa và xã hội Âu
Châu như thế đã ảnh hưởng rất nhiều trong diễn tiến lịch sử qua hơn hai
thế kỷ cho đến ngày nay, không những tại Âu Châu mà lan rộng trên thế
giới, đi kèm với cái nhìn lạc quan hầu như ngây ngô về tiến bộ khoa học
kỹ thuật và trào lưu dân chủ như chìa khóa giải quyết mọi vấn đề nhân
sinh.
2/ Những mối căng thẳng giữa Giáo Hội Công Giáo và xã hội dân sự về nhân quyền
Hệ quả của Cách Mạng Pháp đi kèm với Bản tuyên ngôn 1789 là sự căng
thẳng liên tục đạo đời về quan điểm nhân quyền. Đôi bên, giáo hội công
giáo và các trào lưu tân kỳ chi phối xã hội, không những cố thủ lập
trường của mình mà có khuynh hướng đi quá xa. Phía Cách Mạng xem kitô
hữu và giáo hội công giáo đương thời là thành phần ngoan cố của chế độ
cũ, bảo thủ và phản động, và lập tức vi phạm ngay điều mà Bản Tuyên Ngôn
đề xướng: quá nhiều chém giết huynh đệ tương tàn, loại trừ tự do tư
tưởng bằng bạo lực hoặc bằng các phương thức gián tiếp tinh vi, hạn chế
tự do hành đạo…; phía giáo hội công giáo lúc bấy giờ chưa có thể quan
niệm được sự phân cách giữa trách nhiệm dân sự và những giới hạn của
phận vụ tôn giáo (chưa thể quan niệm được sứ mệnh đặc loại của mình và
quyền uy xã hội dân sự) nên đã đi vào đường lối phản đối tiêu cực và thu
mình vào thái độ thụ động, lên án: “Các biện pháp bài tôn giáo của
Cách Mạng diễn tiến tuần tự, sự kiện có thể chứng minh được qua lập
trường e dè của Giáo hoàng Piô VI; Ngài chần chừ một thời gian dài trước
khi lên án Bản Tuyên Ngôn năm 1789 trong Cơ mật hội ngày 19.3.1790; và
sau đó là ”Qui chế dân sự của giới giáo sĩ”. Rõ rệt hơn nữa trong Tông
thư ngày 10.3.1791 Quod Aliquantum: Ngài ‘không nhằm cổ súy việc tái lập
lại chế độ cũ của nước Pháp’…”.
Tuy vậy, chính trong bức thư đó lại có những thành ngữ rất mạnh như «các
quyền kỳ quặc» hoặc «quyền ảo tưởng» khi nói về các loại tự do mới.
Những loại tự do như thế sẽ cho chúng ta cứ điểm để thấy nội dung của sự
tranh chấp giữa giáo hội và xã hội tân thời.[7]
Đến đầu thế kỷ nầy, Dom Besse tóm kết cho ta thấy tại sao về giáo hội
công giáo vẩn e dè đứng ngoài, nếu không nói là ngờ vực chống đố những
trào lưu nhân quyền dân sự.
“Chúng là lời tuyên xưng, là điều răn của chủ nghĩa duy nhiên và chủ
nghĩa tự do. Ta tìm thấy trong ấy tất cả những đường nét của các hệ
thống nầy: quyền Thiên Chúa, im lặng không nói đến quyền của Chúa, cứu
cánh con người quy hết vào hạnh phúc trần thế, độc lập không lệ thuộc gì
vào mọi quyền bính, bình đẳng giữa mọi người, mọi ý kiến có giá trị như
nhau (…). Phương cách duy nhất để có cơ may thành công chống lại chủ
trương cứu độ con người như thế, là phải luôn mãi trở về với ý niệm
Thiên Chúa, vai trò của Ngài nơi trần thế và các quyền của Ngài”.[8]
Nhưng bên cạnh những cách biệt đạo đời đó, giáo hội công giáo tìm ra
được nhiều phương cách thực thi đức bác ái của mình. Giáo hội công giáo
không nhân danh nhân quyền với âm hưởng là thoát ly khỏi tôn giáo, nhưng
đã can đảm dấn thân phục vụ con người và ưu tiên đồng hành với người
yếu thế, thăng tiến cuộc sống của họ trong nhiều lãnh vực: các dòng tu
chuyên về giáo dục con em nghèo, săn sóc bệnh nhân, các hội từ thiện,
các văn kiện giáo hội bênh vực giới thợ thuyền và tôn vinh giá trị lao
động (TĐ Rerum Novarum của GH Lêô XIII)… Và hơn nữa nhiều Kitô hữu đã
dấn thân ngay vào các tổ chức nhân quyền, hợp tác với những người không
cùng quan điểm tôn giáo vượt lên trên những hậu ý lắm lúc thiếu căn cơ.
Về phía xã hội dân sự, tuy còn ái ngại về yếu tố tôn giáo trong cuộc
sống dân sự, người ta thấy được sự hiện diện tôn giáo, đặc biệt là công
giáo không còn là mối đe dọa quyền lực, cũng như thực tế xã hội cho thấy
kitô hữu thật sư là tác nhân thực thi nhân quyền cụ thể và hữu hiệu,
những nội dung ‘cách mạng theo nghĩa là bài xích tôn giáo’ phôi pha dần
để trở thành những nội dung tích cực và ít nặng về ý hệ tự do cá nhân
triệt để.
3/ Gặp gỡ đạo-đời về nhân quyền
Ngày nay không ai có thể phủ nhận giáo hội công giáo trong mọi mặt là
chiến sĩ ở tuyến đầu đấu tranh cho nhân quyền. Biến cố làm rung chuyển
giáo hội công giáo, – từ thái độ chống đối đến lập trường cổ võ tới mức
độ đã đưa nội dung nhân quyền vào giáo huấn như một yêu sách thực thi
Tin Mừng, – biến cố đó là Công Đồng Vaticanô II. Khai mở cho tinh thần
đối thoại đạo-đời, GH Gioan XXIII trong thông điệp Pacem in Terris đã
nêu lên những chỉ dẫn tích cực: “Cũng thế, ta không thể đồng hóa
những lý thuyết triết học sai trái về vũ trụ tự nhiên, về nguồn gốc và
cứu cánh của thế giới và của con người, với những phong trào thực hiện
trong lịch sử được thành lập nhằm mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc
chính trị, mặc dù các phong trào nầy đã phát sinh, và còn chịu ảnh
hưởng bởi các lý thuyết ấy. Một lý thuyết, một khi đã định hình và được
viết ra, thì không thay đổi nữa, trong lúc các phong trào, vì có đối
tượng là những hoàn cảnh cụ thể và đổi thay của cuộc sống, nên không thể
nào không chịu ảnh hưởng một cách rộng rãi về biến chuyển nầy. Ngoài
ra, trong trường hợp các phong trào nầy đồng ý với các nguyên lý tốt
lành của lý trí và đáp ứng được những khát vọng chính đáng của con
người, ai có thể từ chối mà không nhìn nhận nơi các phong trào ấy có
những yếu tố tích cực và đáng hoan nghênh”[9].
Và các nội dung của nhân quyền được đưa vào giáo huấn, vào bản văn minh
định lề lối sinh hoạt của giáo hội giữa trần thế; qua Hiến Chế Gaudium
et Spes chúng ta có thể nêu lên vài nội dung chính yếu như sau: “(…)
Con người ngày càng ý thức hơn phẩm giá cao cả của mình vượt lên trên
mọi vật; các quyền lợi và bổn phận của nó có tính cách phổ quát và không
thể vi phạm. Vì thế cần phải đem lại cho con người có được tất cả
những gì thiết yếu để sống một cuộc sống thật sự xứng đáng là người,
như: của ăn, quần áo, nhà ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập
gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, được bảo vệ thanh danh,
được kính trọng, được thông tin đúng đắn, quyền hành động theo luật ngay
chính của lương tâm, quyền bảo vệ đời sống riêng tư và có được tự do
chính đáng, kể cả trong lãnh vực tôn giáo (26, 2)”.
“Mọi hình thức kỳ thị liên quan đến các quyền căn bản của con người,
dù dựa trên phái tính, chủng tộc, màu da, điều kiện xã hội, ngôn ngữ
hoặc tôn giáo, đều phải vượt qua và bãi bỏ, như là trái với ý định của
Thiên Chúa (29, 2). Vì thế Giáo hội, dựa vào Phúc âm đã ủy thác cho
mình, tuyên dương các quyền của con người, nhìn nhận và đánh giá cao
năng động của thời đại hiện đang cổ võ những quyền ấy khắp nơi… Chúng
ta dễ gặp cám dỗ cho rằng các quyền con người chúng ta có thể duy trì
trọn vẹn một khi tước bỏ hết lề luật của Chúa” (GS 41, 3).
Tiếp theo Công Đồng Vaticanô II, các vị giáo hoàng, các hội đồng giám
mục liên tục lên tiếng kêu gọi không những tín đồ của mình mà cổ võ mọi
người, mọi giới thực thi nhân quyền. Giáo triều Roma đã không những phản
ứng trước những vi phạm nhân quyền gia trọng trước mắt, mà còn nêu lên
từng đề mục với những đề nghị cụ thể nhằm giúp thăng tiến và phát triển
con người trong công lý, đặc biệt cho các khối dân cư nghèo khổ: chẳng
hạn về nhà cửa cho người nghèo, đất đai cho người canh tác, giải trừ nợ
nần cho các nước chậm phát triển… Chỉ trong một vài thập niên sinh hoạt
tích cực cho nhân quyền, đặc biệt là về phát triển và hòa bình, giáo
triều Vatican không những được xem là tổ chức có uy thế để can thiệp
trong vấn đề nhân quyền, mà được xã hội xem việc can thiệp cho nhân
quyền là phận vụ riêng của giáo hội công giáo phải chu toàn trong sinh
hoạt cộng đồng thế giới.
Về phía tổ chức, một Ủy Ban Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình và sau đã
nâng cấp thành một Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, được thành
lập để đặc trách việc cổ võ và thực thi nhân quyền, phổ biến giáo huấn
xã hội công giáo. Ở cấp bậc quốc gia và đôi khi ở cấp giáo phận, các ủy
ban liên hệ cũng được khai sinh và sinh hoạt đồng hành với các tổ chức
nhân quyền địa phương.
Ngoài việc thừa nhận thiện ích của nhân quyền, soi sáng ý nghĩa sâu xa
và toàn bích của ý niệm nầy trong khuôn khổ mạc khải của Tin Mừng, không
những giáo hội công giáo đã dấn thân thực thi tích cực mà còn tạo nên
một phong thái riêng trong việc thực thi nhân quyền :
a/ Tin thần tự kiểm, thống hối và canh tân
“Ít nhất cũng phải nhớ rằng trước đây nhiều thời kỳ Giáo hội không tôn
trọng điều mà ngày nay chúng ta gọi là nhân quyền; chỉ cần nghĩ đến
những điều tai ác kéo dài nhân danh Kitô giáo qua nhiều thế kỷ do một số
các cuộc Thánh chiến, do Pháp đình thời Trung cổ, chiến tranh tôn giáo,
chưa kể đến những yếu tố Kitô giáo dễ tạo ra những xung đột kỳ thị
chủng tộc hoặc bài Do Thái. Nhiều người bên ngoài tôn giáo thực sự đã đi
trước Kitô hữu trong nỗ lực bảo vệ nhân quyền (như Liên minh bảo vệ
nhân quyền, một thời gian lâu được xem là đồng nghĩa với chủ trương
chống giáo quyền), nên Kitô hữu cần khiêm tốn đóng góp vào lãnh vực nầy,
tránh huênh hoang. Nhất là, sự tín nhiệm cần phục hồi trong việc bảo
vệ nhân quyền một cách thành tâm đòi hỏi chúng ta phải đại độ dấn thân
không có một hậu ý nào”[10].
Không phải vì đã trực tiếp tham gia vào tội ác, không phải vì đã thinh
lặng hay giữ thái độ tiêu cực trước vi phạm nhân quyền chống lại bất cứ
ai (vốn là đã tiếp tay vi phạm) hoặc vì đã không hết mình tạo điều kiện
cho mọi người được phát triển nhân cách của mình mà thôi, nhưng như Đức
Kitô đã gánh tội nhân loại thế nào, thì cộng đồng kitô hữu cũng liên đới
chịu tránh trách nhiệm về tội ác của bất cứ ai trong cộng đồng nhân
loại vấp phạm. Ngoài ra, giáo hội trên bình diện là tập thể những con
người, đã từng phạm lỗi, và hơn bất cứ ai, giáo hội đó cần phải thú tội
để mãi canh tân. Giáo hội công giáo không phải không biết nhận lỗi như
báo chí hay lặp đi lặp lại, nhưng có lẽ vì đã dám làm và làm nhiều lần,
nhiều dịp, từ cấp giáo hoàng đến các hàng giám mục vùng, quốc gia, giới
trí thức cũng như thành phần dấn thân cho nhân quyền… đến độ có thể gây
ấn tượng tiêu cực một cách vô cố theo sự thường xã hội là đàng khác.
b/ Thực hiện nơi chính mình: Nhân quyền trong Giáo Hội
Hẳn nhiên, ai cũng hiểu rằng không ai cho cái mình không có. Giáo hội
công giáo cổ võ Nhân quyền hữu hiệu nhất khi cho thấây tự nơi cuộc sống
giáo hội của mình, từ vị giáo hoàng đến người tín hữu bình thường nhất,
tất cả xem nhau là huynh đệ trong Đức Kitô chứ không phải là kẻ nắm
quyền và người bị trị. Mẫu mực đó là mẫu mực hoàn thành thời chung mãn.
Giáo hội ngày nay vẫn là giáo hội lữ hành với bao bất cập và nhiều hy
vọng vươn lên. Nhưng trên bình diện xã hội, thế giới chưa bao giờ chứng
kiến một cuộc đổi thay nhanh chóng về canh tân nếp sống cho hợp với
những tiêu chuẫn nhân quyền lý tưởng nơi các cộng đồng chính trị hay tôn
giáo, hơn là cộng đồng công giáo từ sau Công Đồng Vaticanô II.
Không thể kể ra một cách chi tiết tất cả các đổi thay, nhưng một cách
chung người tín hữu ở bất cứ cương vị nào cũng không thấy mình bị một
quyền lực giáo hội trên đầu trên cổ như một áp lực hay một đe dọa nào
đó. Các chức sắc giáo hội càng ngày càng tự cảm thấy mình có bổn phận
phục vụ cộng đồng hơn là “ông quan lớn nắm trong tay chìa khóa nước
trời”; phía tín hữu bình thường, đã quen với lối giao tiếp dân chủ với
các chức sắc dân sự, nay tiếp cận với các vị trong hàng giáo phẩm hay
giáo sĩ như những “thừa tác viên” hơn là một đấng bậc. Người tín hữu có
quyền đòi hỏi chức sắc giáo hội chu toàn phận vụ cộng đồng để thõa mãn
một nhu cầu tôn giáo của mình, chẳng hạn như có quyền được chuẩn bị hôn
nhân công giáo, có quyền đòi linh mục giải tội theo luật giáo hội mà đôi
đường phải tuân giữ (không khác đòi hỏi bác sĩ chữa bịnh hay nhà chức
trách hành chánh làm giấy tờ cho mình), chứ không cảm nhận như phải xin
xõ một ân huệ của cá nhân nào ban cho. Hơn thế nữa người ta cảm thấy có
quyền và bổn phận lên tiếng trong giáo hội. Mặc dầu đây đó từ nhiều cấp
độ khác nhau, ở các địa phương khác nhau còn có những đánh giá tiêu cực
về việc lên tiếng của cá nhân hay một nhóm tín hữu để biểu lộ quan điểm
của mình hay đòi hỏi một vị hay một cơ quan giáo hội làm sáng tỏ một vấn
đề. Nhưng việc lên tiếng đã trở thành quen thuộc và dần hồi được đánh
giá là sự kiện hiển nhiên trong cuộc sống bình thường của giáo hội công
giáo…
c/ Nhân chứng đức tin
Người tín hữu công giáo vẫn tiếc rằng đáng lý ra tổ chức giáo hội công
giáo phải đi trước xã hội dân sự trong cách đối xử huynh đệ với nhau,
tại sao đạo phải đi sau xã hội dân sự trong cách đối xữ theo đường lối
dân chủ trong những sinh hoạt điều hành và tổ chức? Nếu giáo hội công
giáo đã từng áp dụng lối tổ chức và điều hành của đế quốc La Mã, tại sao
ngày nay lại ngại ngùng trước lề lối dân chủ tân thời? Hẳn nhiên không
thể rập khuôn theo thể chế dân chủ trong bất cứ sinh hoạt nào của giáo
hội vì những lý do mạc khải và thần học, nhưng phải nhận một thực trạng
nầy: người tín hữu chờ đợi nhiều cải cách làm sao để công việc chung của
giáo hội không phải là ưu lo riêng, phận vụ riêng của một giới, một bậc
sống mà của mọi tín hữu. Và không phải trong nguyên tắc nhưng trong
thực tế áp dụng với những điều kiện thực hiện được.
Giáo hội công giáo trong tinh thần tự kiểm và canh tân không tìm cách
biện minh, nhưng không vì một số những vấn đề cần canh tân liên tục của
mình mà quên đi sứ mạng nói lên Sự Thật, vốn không phát xuất từ “những
con người”, nhưng từ Thiên Chúa mà giáo hội tuyên xưng đức tin[11].
Như giáo hội đã từng lưu ý về mối liên hệ không thể phân ly giữa mến
Chúa và yêu người, việc cổ võ Nhân quyền của giáo hội không có nghĩa là
tôn vinh tự do, tự chủ cá nhân bất chấp đạo lý (nghĩa là các mối tương
thuộc với Thiên Chúa và tha nhân). Trong khung cảnh văn hóa tân thời với
tự do được hiểu là làm theo trí năng tự mãn theo lối nói của Fr.
Nietzsche: «Cái gì có thể làm được đều được phép làm», Giáo Hội lại thấy
mình có lúc cần phải đi ngược trào lưu thế tục để bảo vệ nhân phẩm và
nhân quyền đích thực. Lập trường của giáo huấn về sự sống, về tương
quan chân lý và tự do, về chiều kích đạo lý và giới hạn của sinh học, về
phẩm giá đích thực của người phụ nữ, số phận thai nhi, ý nghĩa và giá
trị gia đình và tính dục.. thường gây phẫn uất trong nhiều giới tự nhân
là tiến bộ. Ngay trong nội bộ Công Giáo người ta cũng lên tiếng dựa trên
nhiều tiêu chuẩn khác nhau, với nhiều lối đánh giá, xếp loại tiến bộ,
bảo thủ nầy khác. Quyền phát biểu là một nội dung nhân quyền, tuy nhiên
chúng ta biết rằng: nếu thiên hạ ai ưa gì làm đó thì đâu cần đến mặc
khải Chân Lý đến từ trời cao!
4/ Nhân quyền và Giáo Hội Việt Nam
“Bây giờ không phải lúc đọc diễn văn hoặc lặp đi lặp lại không ngừng
trên môi miệng các quyền của con người, nhưng bây giờ là lúc cần khiêm
tốn thực tập, thi hành mỗi ngày và không bao giờ dứt”[12].
Trên đây là nhận định của Hồng Y Roger Etchegaray trong lời tựa cho tập
tài liệu Nhân Quyền và Giáo Hội do Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý Hòa Bình
mà lúc đó ngài là vị chủ tịch đương thời, xuất bản năm 1990. Người ta đã
nói đến nhân quyền rất nhiều và các tài liệu không thiếu. Những phần
trình bày ở các mục trên đây chỉ nhằm qui chiếu vào hoàn cảnh kitô hữu
Việt Nam chúng ta trong phận vụ sống và làm chứng Tin Mừng cho người bên
cạnh, đặc biệt là đồng bào chúng ta.
Với Công Đồng Vaticanô II, chúng ta không có quyền biện minh cách nầy
hay cách khác để đi ngược lại giáo huấn và sự hiệp thông Giáo Hội khi
nói rằng cổ võ và thực thi nhân quyền là một thái độ tùy nghi. Giáo
huấn liên tục nhắc nhở cho mỗi tín hữu, cho từng cộng đoàn, mỗi trách
nhiệm trong Giáo Hội rằng sống đạo trọn nghĩa, trưởng thành, trách
nhiệm, trung tín với lời mời gọi của Thiên Chúa là phải liên kết chặt
chẽ giữa mến Chúa và yêu người. Giáo Hội và Công Đồng không tự suy diễn
ra, nhưng nhắc lại lời dạy rõ ràng của Chúa Kitô được ghi chép trong
Phúc Âm. Cổ võ và thực thi nhân quyền là phương cách yêu người cụ thể, là một nghĩa vụ của người đã chịu phép rửa.
Chúng ta đều biết rằng dù không nói đến chữ nhân quyền, dù không cổ võ
nhân quyền theo phương cách của các quốc gia và Giáo Hội tây phương,
nhưng ngày ngày biết bao kitô hữu Việt Nam đã âm thầm hy sinh mình để
thăng tiến cuộc sống cho người cạnh mình, giúp tha nhân sống phát huy
phẩm giá mình. Nhưng kể ra như thế và dừng lại đó để mặc ngày tháng trôi
qua xem như xã hội đã quá tốt đẹp, hoặc lấy cớ tây phương và chúng ta
hai nền văn hóa khác nhau, đó và đây có những hoàn cảnh xã hội hoàn toàn
trái nghịch, để dậm chân tại chỗ đến độ xem như cổ võ cho nhân quyền
chỉ là thái độ điên rồ vô lối, một sở trường của giới làm chính trị nào
đó, thì có lẽ đến lúc phải kiểm điểm tâm thức sống đạo của mình.
Nhưng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là ai? Và ai có tư cách để cổ võ nhân quyền?
Tâm thức chúng ta phải chăng còn cho rằng Giáo Hội là hàng giáo phẩm,
các giáo sĩ tu sĩ mà thôi nên mãi ngồi chờ các ngài cổ võ và thực thi
nhân quyền thay cho mình? Không phải giáo huấn Giáo Hội đã chỉ dẫn rằng
giáo dân phải ở tuyến đầu để dấn thân vào các lãnh vực trần thế hay sao?
Nhưng mặt khác, hàng giáo phẩm có biểu lộ (chưa nói đến nghĩa vụ giáo
huấn và thực hiện trước như giáo triều Roma và các giám mục các nơi đã
thường xuyên thực hiện) cho tín đồ của mình xác tín rằng việc cổ võ và
thực thi nhân quyền, bất cứ ở cương vị hay thân phận nào, là sống đạo
hay không?
Nếu xã hội dân sự Việt Nam đã từng chịu cơn rúng động về đổi thay tâm
thức và canh tân lối cư xử ăn khớp với những đòi hỏi của nhân quyền qua
các trào lưu cải cách thời tiền chiến, đặc biệt của nhóm Tự Lực Văn
Đoàn, thì phía cộng đồng các tôn giáo Việt Nam, trong đó có Công Giáo,
dường như chưa hề biết đến những nỗ lực đổi thay và canh tân nội bộ như
thế. Hẳn nhiên ảnh hưởng xã hội, các giáo huấn Giáo Hội và hình thức
nghi lễ thấm nhập một phần nào đó và cải biến tâm thức của hàng giáo sĩ
cũng như giáo dân, nhưng ý chí chung muốn có những cải cách có phương
pháp, qui mô và phổ biến thì thú thực chưa ai nghĩ đến. Người giáo dân,
không ai ép uổng để làm thinh hay thụ động đứng xa hoặc không dám nhắc
đến việc điều hành cộng đồng, nhưng quyền hạn đó họ cam nhận như là
thuộc bề trên là thành phần giáo sĩ. Nhân danh sự tôn trọng bậc bề trên
là một giá trị văn hóa tôn giáo và truyền thống Á Đông mình, nhân danh
sự kiến hiệu nhất thời (khỏi phải bị hạch xách thêm rắc rối!), cộng đồng
chúng ta bằng lòng với mẫu mực đặt đâu ngồi đó, âm thầm trở thành con
chiên ngoan ngoãn, vô tình nếp an bình giả tạo ấy đánh mất quyền tham gia của tín hữu một cách tích cực vào sinh hoạt của Giáo Hội.
Trong nỗ lực cổ võ nhân quyền một cách vị tha đúng theo tinh thần Phúc
âm, không phải chỉ đấu tranh cho quyền lợi của Giáo Hội mình và hạn chế
trong sinh hoạt phụng tự của cộng đồng mình; nhưng cảm nhận những khó
khăn oan ức của người cạnh mình, lên tiếng để công lý được thực hiện cho
bất cứ người nào, đoàn thể, tổ chức, sinh hoạt nào, khi quyền tự do của
họ bị vi phạm. Trong ý hướng và nội dung nhân quyền như thế, thì chúng
ta thành thực nhận rằng trên bình diện tổ chức cộng đồng chưa có nhiều
những cử chỉ quảng đại, can đảm để lo cho kẻ khác mình.
Thay lời kết
Ngày nào còn con người thì còn có những tương quan khó khăn gây ra nhiều
vi phạm chà đạp phẩm giá con người ; những kẻ bị xúc phạm đến phẩm giá
của mình, hơn ai hết, họ phải là ưu tư hàng đầu của người tin vào tình
yêu Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Họ là những người nghèo mà Giáo Hội phải
phục vụ chứ không chỉ là người nghèo đói vật chất mà thôi. Chúng ta
không thể « bất nhân » khi muốn thực hiện nước Trời. Trong bối cảnh xã
hội Việt Nam, một xã hội mà không ai dám nói là nhân quyền được tôn
trọng, thì thờ ơ hay tránh né cổ võ và thực thi nhân quyền làm sao có
thể biện minh được khi mình được Đức Kitô mời gọi làm nhân chứng của yêu
thương. Và cũng trong bối cảnh xã hội Việt Nam như thế, việc nêu lên
nhận xét cho rằng phận vụ dấn thân cho nhân quyền là thiếu hiểu biết, xa
xỉ hoặc tùy nghi, thì việc làm đó đáng đặt cho lương tri người Công
Giáo Việt Nam thách đố tự kiểm.
Và để kết luận chúng tôi xin chép lại lời của Walter Kasper khi vị nầy trình bày về nền tảng thần học của nhân quyền[13]: “Đức Giáo hoàng Phaolô VI từng nói: Giáo Hội là chuyên gia về các vấn đề nhân tính[14] Từ tước vị đầy vinh dự đó, Giáo Hội phải là một gương sáng về công lý[15].
Những tương quan giữa các tín hữu, giữa các thừa tác vụ khác nhau và
tín hữu, giữa quyền giáo huấn của Giáo Hội và các nhà thần học, trong
Giáo Hội, cần có được một bầu khí tự do, khoan dung và tin cậy nhau.
Giáo Hội phải là một Giáo Hội với khuôn mặt nhân đạo. Nên, việc phục vụ
mà Giáo Hội có thể thực hiện cho nhân quyền không phải chỉ bằng lời huấn
dụ, dù quan trọng đến thế nào đi nữa, nhưng cũng bằng gương sáng công
việc làm của mình. Giáo Hội có bổn phận phải biện minh, giải thích, bảo
vệ nhân phẩm và nhân quyền không chỉ bằng lời nói, nhưng hơn nữa còn
phải bằng hành động và cuộc sống của mình. Hơn ai hết, Giáo Hội không
được làm cho thế giới chúng ta ngày nay phải thất vọng về nỗi khao khát
công lý và ước muốn sôi nổi tìm về nhân tính của mình”.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét